Đảm bảo thúc đẩy bình đẳng giới trong Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)

18:14 - 01/11/2018

Dự kiến Bộ luật Lao động (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội cho ý kiến vào tháng 5/2019, thông qua vào tháng 10/2019. Hiện Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban soạn thảo khẩn trương hoàn thiện để xin ý kiến rộng rãi nhân dân, đặc biệt đối tượng người lao động. Trong đó đáng chú ý, Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này là thay đổi cách tiếp cận “bảo vệ lao động nữ” của các quy định hiện hành sang cách tiếp cận“thúc đẩy bình đẳng giới”.

 

Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ LĐ-TB&XH) Hà Đình Bốn đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Lao động và Xã hội xung quanh vấn đề này.

*Thưa ông, vấn đề bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ đã được thể hiện như thế nào trong Bộ luật Lao động năm 2012?

Trên cơ sở quy định tại Hiến pháp năm 2013, quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Năm 2006, Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới, quy định các nguyên tắc, nội dung thúc đẩy bình đẳng giới, lồng ghép bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật và quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tăng cường bình đẳng giới.

Bộ luật Lao động năm 2012 gồm 17 chương với 242 điều. Trên cơ sở kế thừa những quy định hiện hành, đã sửa đổi, bổ sung cơ bản toàn diện cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đồng thời, khẳng định, bình đẳng, không phân biệt đối xử - trong đó có bình đẳng, không phân biệt đối xử dựa trên yếu tố giới - là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định rằng lao động nữ cũng như mọi người lao động khác đều được hưởng đầy đủ các quyền lợi và phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về lao động. Tuy nhiên do đặc điểm tâm - sinh lý của phụ nữ và phụ nữ là người thực hiện thiên chức cao cả là sinh đẻ, làm mẹ, do đó trong Bộ luật Lao động đã giành một chương riêng quy định đối với lao động nữ, ngoài ra còn được lồng ghép vào các điều, khoản khác trong Bộ luật. Bộ luật đã cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của lao động nam và nữ trong việc thực hiện đồng thời chức năng xã hội cùng chức năng sinh sản, nuôi con nhỏ, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ người lao động nữ khi thực hiện chức năng sinh sản, làm mẹ, hướng tới thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, từng bước thu hẹp khoảng cách giới trong các quan hệ lao động bằng việc lồng ghép bình đẳng giới trong nhiều chương, điều khác của Bộ luật. Các chế định về lao động nữ cũng đã được kế thừa và quy định trên cơ sở thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách bình đẳng giới, phù hợp các công ước quốc tế có liên quan.

* Bộ luật Lao động 2012 đã cụ thể hóa tương đối đầy đủ nguyên tắc bình đẳng giới nhưng vẫn còn một số bất cập về giới ?

Qua hơn 5 năm thực hiện, Bộ luật Lao động năm 2012 đã phát huy tác dụng, là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ lao động, từng bước xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ và phát triển. Những quy định nhằm bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới của Bộ luật Lao động đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế. Nhiều doanh nghiệp đã xác định việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định trên không chỉ bảo đảm quyền lợi cho người lao động, mà còn giúp tăng cường năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua việc ổn định và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Bộ Luật Lao động năm 2012 cũng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp nhằm tạo khung pháp lý thông thoáng hơn, linh hoạt hơn về lao động tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong bối hội nhập nhập quốc tế. 

Trong đó, một số nội dung cụ thể về bình đẳng giới trong Bộ luật Lao động  năm 2012 đang còn một số bất cập như: có quyền chưa được xác lập đầy đủ trong Bộ luật như  quyền bình đẳng của lao động nam và lao động nữ trong việc thực hiện chức năng sinh sản và nuôi con nhỏ phù hợp với đặc điểm giới tính (Điều 159), bao gồm cả quyền của người lao động  tự quyết định (lựa chọn) làm các công việc có ảnh hưởng đến chức năng sinh sản và nuôi con nhỏ (Điều 160). Có quy định trong luật chưa thật hợp lý như quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động và Nhà nước trong việc tổ chức nhà trẻ, mẫu giáo và hỗ trợ chi phí gửi trẻ, mẫu giáo của người lao động, dẫn đến quy định tính khả thi không cao, quyền lợi của người sử dụng lao động khi thực hiện các biện pháp bảo đảm, thúc đẩy bình đẳng giới trong lao động chưa được tính đến đầy đủ. Vấn đề chênh lệch tuổi nghỉ hưu nam, nữ. Hay quy định về quấy rối tình dục tại nơi làm việc cần bổ sung làm rõ một số khái niệm và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động trong công tác phòng, chống và xử lý quấy rối tình dục tại nơi làm việc để thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tiễn và đảm bảo tính khả thi cao…

* Như vậy, một số bất cập về giới sẽ được cụ thể hóa như thế nào trong dự thảo Bộ Luật lao động (sửa đổi) lần này thưa ông?

Về nguyên tắc, dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) phải kế thừa các quy định hiện hành đang phát huy hiệu lực. Tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng giới (khoản 7, Điều 4) và nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (khoản 1 và 2 Điều 8) trong Bộ luật Lao động năm 2012 phù hợp với nguyên tắc hiến định tại Hiến pháp năm 2013. Tiếp tục khẳng định chính sách và các biện pháp của Nhà nước Việt Nam bảo vệ lao động nữ, bảo vệ bà mẹ phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Bình đẳng giới và Công ước CEDAW, các công ước liên quan của Tổ chức lao động quốc tế (ILO).

Việc sửa đổi Bộ luật Lao động lần này là cơ hội để chúng ta xem xét sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách thúc đẩy bình đẳng giới cho phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là thay đổi cách tiếp cận “bảo vệ lao động nữ” của các quy định hiện hành sang cách tiếp cận “thúc đẩy bình đẳng giới”. Đồng thời cải thiện điều kiện đầu tư kinh doanh, sửa đổi, bổ sung các điều luật để bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản, cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà chúng ta tham gia và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, thể chế chính trị của Việt Nam. Đây còn là cơ sở để cho Việt Nam tiếp tục tham gia các Hiệp định thương mại tự do với các đối tác khác.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định đối với lao động nữ  nhằm đảm bảo thúc đẩy bình đẳng giới theo hướng: một số quy định bất cập, chưa phù hợp tiêu chuẩn lao động quốc tế thì phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, toàn diện để sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp luật lao động với các luật liên quan và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực lao động. Đối với những quy định mang tính nhân văn, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước và các tiêu chuẩn quốc tế, nhưng chưa được tổ chức thực hiện tốt, chưa có tính khả thi cao trong thực tiễn thì cần tiếp tục khẳng định và quy định rõ các chính sách, các giải pháp, cơ chế nguồn lực, cơ chế tổ chức để đảm bảo thực hiện trong thực tiễn.

Những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung lần này có tác động lớn về kinh tế, xã hội không chỉ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, mà còn tác động tới việc làm, thu nhập, điều kiện làm việc và cuộc sống của hàng chục triệu lao động, cũng như thành viên gia đình họ, ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng đến hàng ngàn doanh nghiệp và hàng chục triệu lao động nam và lao động nữ trên trên thị trường lao động của nước ta, nên cần được tiếp tục nghiên cứu, thảo luận và xin ý kiến rộng rãi tới toàn dân, đặc biệt là các đối tượng bị tác động trực tiếp, để tạo sự đồng thuận cao khi trình các cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định.

Xin cảm ơn ông!

NGUYỄN SÍU (thực hiện)

Cùng chuyên mục
Xem theo ngày
Xem thêm
  • Xem thêm ›